Saturday, 7 May 2011

Xung quanh việc tập trung đông người ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên


Xung quanh việc tập trung đông người ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
QĐND - Thứ Bẩy, 07/05/2011, 17:44 (GMT+7)

Trước những thông tin sai lệch về tình hình trật tự trị an ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, phóng viên TTXVN đã đến tận nơi, trực tiếp phỏng vấn ông Mùa A Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên. Ông Mùa A Sơn khẳng định như sau: Trong những ngày vừa qua, một số phần tử xấu đã có hành vi lừa gạt, lôi kéo bằng những luận điệu mê tín dị đoan, thậm chí chúng còn khống chế bà con người Mông, chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em ở bản Huổi Khon và một số bản lân cận ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tụ tập trong rừng, rêu rao về cái gọi là “thành lập vương quốc Mông”. Do thời tiết xấu, điều kiện ăn ở không hợp vệ sinh, một số bà con bị đau ốm, trong đó có một cháu nhỏ bị ốm chết.

Ảnh mang tính minh họa. Nguồn Internet

Hoạt động trên là bất hợp pháp, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định đời sống, sản xuất của nhân dân, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự trong khu vực này.

Trước tình hình trên, chính quyền và các đoàn thể nhân dân huyện Mường Nhé đã kịp thời vận động, giải thích bà con hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu. Từ đó, nhân dân đã tự giác trở về nơi cư trú. Chính quyền địa phương đã hỗ trợ phương tiện, lương thực, thuốc men và trợ cấp giúp đồng bào ổn định cuộc sống. Một số đối tượng có hành vi quá khích đã bị tạm giữ và giao cho lực lượng chức năng quản lý, giáo dục.

Đến nay, tình hình an ninh trật tự khu vực trên đã ổn định, chính quyền địa phương cùng bà con đang tập trung chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp theo đúng kế hoạch.

Ông Mùa A Sơn cũng nói rõ: gần đây, một số hãng tin nước ngoài đưa tin thất thiệt về sự việc này, chúng tôi khẳng định đó là những tin tức không đúng sự thật, với dụng ý xấu.

Theo TTXVN
source
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/10/50/50/147193/Default.aspx

Thứ Hai, 13/09/2010 - 10:12 AM

Mường Nhé và câu chuyện hôm nay



Có lẽ chẳng ở đâu cho đến thời điểm này, có một vùng đất mà tên gọi của nó mỗi khi nhắc đến lại gợi cho người ta cảm giác heo hút và xa xôi diệu vợi như Mường Nhé. Vùng ngã ba biên giới này đã và đang sở hữu vô số kỷ lục vô tiền khoáng hậu, trong đó có những kỷ lục chưa vui.

Nhưng cũng chính ở cái nơi khắc nghiệt bậc nhất này, vẫn có các chiến sĩ Công an đang ngày đêm lặng thầm đồng cam cộng khổ, giữ gìn cuộc sống bình yên cho người dân. Nếu như câu chuyện hôm qua ở Mường Nhé có thể để lại nhiều nỗi niềm day dứt, thì hôm nay nơi ba nước cùng nghe một tiếng gà lại đang được biết đến với nhiều đổi thay kỳ diệu…

Câu chuyện hôm qua…

Mường Nhé là huyện thuộc tỉnh Điện Biên tiếp giáp với cả hai nước Lào và Trung Quốc, trong đó có 165 cây số đường biên với Lào và 49,5 cây số với Trung Quốc. Đã có thời, người ta ví vào được Mường Nhé còn khó hơn lên đến giời. Vùng đất ngã ba biên giới heo hút cách trung tâm huyện lỵ Mường Tè (Lai Châu cũ) gần 200 cây số đường rừng. Muốn đến đó, người ta chỉ có thể đi bộ. Thậm chí đến bây giờ, khi đường rải cấp phối có thể vào được đến trung tâm 16 xã, thì đối với nhiều người dân các bản vùng sâu vùng xa, ước mơ nhìn thấy một chiếc ôtô vẫn chỉ là một điều gì đó xa xỉ!

Huyện Mường Nhé hiện có 16 xã, xấp xỉ 55 ngàn dân, hơn 60% dân số Mường Nhé là dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc, như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang và Sơn La. Làn sóng di cư tự do bắt đầu phức tạp từ đầu những năm 90, khi ấy Mường Nhé vẫn là đại ngàn, sở hữu hơn 350 ngàn héc ta rừng nguyên sinh với nhiều loại chim thú quí hiếm.

CBCS Cục An ninh Tây Bắc và Công an huyện Mường Nhé, Điện Biên vận động nhân dân không di cư tự do.

Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, dân gốc ở Mường Nhé chỉ vỏn vẹn có hơn 1 vạn người, nhưng trong khoảng 10 năm sau đó, vùng ngã ba biên giới này đã phải tiếp nhận hơn 4 vạn dân di cư tự do. Nếu như trước đó, Mường Nhé có duy nhất một bản người Mông là Nậm Nà gồm 30 hộ, gần 120 nhân khẩu, thì hiện nay, người Mông là dân tộc chiếm đa số. Di cư tự do kéo theo những hệ lụy thật khủng khiếp, đó là nạn đốt phá rừng, săn bắn bừa bãi...

Mường Nhé hoang biệt, mênh mông, đất đai màu mỡ, trở thành "vùng đất hứa" để người di cư tự do kéo đến. Đó là nguyên nhân làm cho tình hình kinh tế - xã hội, an ninh trật tự ở Mường Nhé trở nên phức tạp. Nóng bỏng nhất tình trạng tuyên truyền gây mất đoàn kết dân tộc, nghe và tin theo kẻ xấu, rồi xuất nhập cảnh trái phép là những vấn đề nảy sinh.

Qua khảo sát của lực lượng Công an (năm 2005), toàn bộ người di cư tới đây chưa từng được đăng kí hộ tịch, hộ khẩu, không CMND và các giấy tờ xác định nhân thân khác. Ít nhất đã có hai thế hệ sinh ra và lớn lên ở Mường Nhé, nhưng hàng ngàn đứa trẻ vẫn chưa bao giờ được đăng kí khai sinh. Nghiêm trọng hơn, do không được quản lý chặt chẽ, nhiều bản làng trở thành nơi ẩn nấp "lý tưởng" của nhiều tên tội phạm nguy hiểm sau khi gây án bỏ trốn… Thiếu tá Giàng Páo Sính, Phó trưởng Công an huyện Mường Nhé đã trải lòng với chúng tôi về "cái thuở ban đầu" nhọc nhằn và nhức nhối như vậy.

Đại tá Nguyễn Xuân Kiêm, Phó giám đốc Công an tỉnh Điện Biên cho biết: Cho đến tận đầu năm 2010, qua công tác nắm tình hình, lực lượng Công an tiếp tục phát hiện một số đối tượng lén lút tụ tập ở các bản giáp biên của xã Nà Bủng, Na Cô Sa, Nậm Kè, đặc biệt là bản Nà Bủng 1, 2 và bản Ngải Thầu thuộc xã Nà Bủng. Mục đích hoạt động của các nhóm đối tượng này là tập hợp lực lượng, tổ chức tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nói xấu cấp uỷ, chính quyền, kêu gọi người dân từ bỏ nương rẫy, di cư tự do…

Và câu chuyện hôm nay

Đã quá nửa đêm, giữa cơn mưa rừng ầm ào, trong ngôi nhà vẫn còn thơm mùi gỗ của già bản Vừ Chứ Sua ở Ham Xoong, xã Nà Bủng, tôi ngồi nói chuyện cùng mấy anh em trong tổ công tác "cắm bản" của Cục An ninh Tây Bắc và Công an tỉnh Điện Biên. Đây là một trong 5 tổ được tăng cường vào Mường Nhé từ hồi đầu năm.

Thời điểm này, Tây Bắc đang vào giữa mùa mưa, những cơn mưa rừng xối xả dường như chẳng bao giờ dứt. Hai con suối Nậm Pồ và Nà Hỳ hiền hoà, giờ bỗng dở chứng ngày đêm cuộn réo ùng ục, chia cắt giao thông, cô lập các bản. Trong khi dưới đồng bằng đang nóng như đổ lửa, thì ở đây đêm xuống, mọi người phải đốt lửa… sưởi.

Mãi gần 3h sáng, Đại tá Đào Đức Thách, Cục phó Cục An ninh Tây Bắc mới lướt thướt cùng Thiếu tá Giàng Páo Sính và 3 cán bộ trở về. Đưa cả hai bàn tay vào ngọn lửa hồng rừng rực, Đại tá Thách xuýt xoa "Rét quá, chẳng ai hình dung giữa mùa hè mà phải sưởi ấm thế này!". Anh và tổ công tác vừa đi họp dân dưới bản Nậm Cốc, cách đây khoảng 5 cây số. Sáng mai có cuộc giao ban giữa các tổ ở trụ sở UBND xã Nậm Kè, nên anh em vẫn quyết định lội rừng quay về, mặc cơn mưa rừng xối xả với nhiều mối nguy hiểm rình rập của đại ngàn…--PageBreak--

Năm 2002, huyện Mường Nhé được thành lập trên cơ sở chia tách, sáp nhập các xã của huyện Mường Tè (Lai Châu cũ) và Mường Chà (Điện Biên), Công an là lực lượng đầu tiên "kéo quân" đến Chà Cang - nơi đặt huyện lỵ tạm để dựng lán trại, triển khai nhiệm vụ công tác. Vượt lên những vất vả, nhọc nhằn về nơi ăn, chốn ở, nhiệm vụ của lực lượng Công an khi đó là từng bước điều tra, rà soát đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, cấp CMND cho hơn 4 vạn dân di cư.

Cái khó cho cán bộ tăng cường lúc bấy giờ là một bộ phận người dân thiếu hợp tác, không mặn mà với việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu. Tuy nhiên, do có nhiều kinh nghiệm qua các đợt ra quân tăng cường cơ sở trước đó, khá "thiện chiến" trong công tác tuyên truyền, nên các tổ công tác từng bước triển khai và thu được kết quả khích lệ.

Đầu năm 2008, khi Chính phủ có Quyết định 141 phê duyệt Đề án sắp xếp, ổn định dân di cư tự do ở Mường Nhé, Công an lại trở thành lực lượng nòng cốt triển khai Quyết định này.

Chỉ riêng năm 2009, UBND tỉnh Điện Biên đã ra quyết định công nhận và thành lập tới 33 bản mới. Theo Trung tá Đào Thị Hải, Phó Trưởng phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH, đến nay lực lượng Công an đã rà soát, xác minh, làm thủ tục cấp sổ hộ khẩu, cấp CMND cho gần 90% số hộ di cư tự do và người trong độ tuổi cư trú tại Mường Nhé.

Giúp dân ổn định đời sống.

Tôi vẫn nhớ hình ảnh ông Vừ A Tủa, 44 tuổi ở bản Nậm Thà Là, xã Pa Tần run run nhận cuốn sổ hộ khẩu và tấm CMND từ tay Thượng uý Giàng A Lử, Công an huyện Mường Nhé. Ông xúc động nói: "Từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi mới biết được giá trị của sổ hộ khẩu và CMND, đã thế cán bộ còn vào tận nhà làm và phát tận tay. Có cái này, gia đình tôi có thể được vay tiền ngân hàng để phát triển sản xuất rồi…".

Từ lâu, lính Cục An ninh Tây Bắc nổi tiếng chẳng khác gì quân của Phòng An ninh xã hội và Công an huyện Mường Nhé về khả năng lội rừng và cắm bản. Họ cứ triền miên cuốc bộ từ bản này sang bản khác. Chuyến đi của các anh kéo dài ròng rã mỗi năm 6 tháng, mỗi đợt đi 3 tháng, nhiệm vụ chính của các anh là vận động người dân định canh định cư, ổn định sản xuất, không trồng thuốc phiện, không nghe và tin theo các luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu.

Lúc ban đầu khi cán bộ Công an xuống địa bàn, nhiều người dân vì nghe và tin theo luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu đã xa lánh, ghẻ lạnh với cán bộ. Thượng uý Giàng A Lử, cán bộ Công an huyện Mường Nhé, một cán bộ người Mông tâm sự: "Bà con dân tộc có tư duy trực giác, chỉ tin những gì mắt thấy tai nghe, nên chính những việc làm của anh em, không ngại khó khăn, gian khổ, cùng ăn cùng ở, cùng làm với người dân mà chúng tôi đã cảm hoá dần nhiều đối tượng cầm đầu tích cực".

Ông Pờ Diệp Sàng, Bí thư Huyện uỷ Mường Nhé là một người sinh ra và lớn lên ở vùng ngã ba biên giới đã tổng kết "Chính người dân và sức mạnh của nhân dân mới đánh đổ được bọn người xấu, đột phá khẩu vẫn là công tác tuyên truyền đi đôi với việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho người dân".

UBND tỉnh, UBND huyện đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, phối hợp với lực lượng Công an triển khai đồng bộ nhiều giải pháp phát triển kinh tế - xã hội gắn với giải quyết tình hình an ninh trật tự tại các địa bàn. Chỉ tính 5 năm trở lại đây, huyện Mường Nhé đã được Nhà nước đầu tư hơn 1000 tỷ đồng phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất.

Thực tế ở Mường Nhé cho thấy, thời gian qua nếu xã, bản nào được quan tâm đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, triển khai thực hiện kịp thời và có hiệu quả các Dự án của Chính phủ thì việc phát động và đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ ở địa phương đó đạt kết quả cao.

Cách đây gần nửa thế kỷ (năm 1959), nghe theo lời vận động của anh hùng Trần Văn Thọ, bấy giờ là cán bộ vận động quần chúng Đồn biên phòng Leng Xu Xìn, người dân Mường Nhé đã hạ sơn lập bản, học canh tác lúa nước để sản xuất, ổn định đời sống. Những người lính tiên phong, khai sơn phá thạch đó mấy chục năm qua đã góp phần dựng xây các bản làng người Thái, người Hà Nhì trù phú ở Sín Thầu, Sen Thượng và Chung Chải.

Mường Nhé chưa hết những khó khăn, lo toan và trăn trở, nhưng Mường Nhé hôm nay đã và đang thay da đổi thịt từng ngày, vóc dáng một đô thị phố núi nơi tận cùng cực Tây của Tổ quốc không chỉ là hình hài mà đã và đang trở thành hiện thực

Vũ Mạnh Hà (Báo CAND số 19/8)
source
http://ca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=168505





Wednesday, 27 April 2011

'Bà Nhu như tôi từng biết' (phần 1)


Cập nhật: 08:39 GMT - thứ ba, 26 tháng 4, 2011

'Bà Nhu như tôi từng biết' (phần 1)

Bà Trần Lệ Xuân

Người được coi là như là cựu 'Đệ nhất Phu nhân' của nền Đệ nhất Cộng hòa ở miền Việt Nam, bà Trần Lệ Xuân, vừa qua đời ở tuổi 87.

Bà là vợ của ông Ngô Đình Nhu, em trai Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Tin bà Trần Lệ Xuân qua đời được loan báo tới các phương tiện thông tin đại chúng từ luật sư Trương Phú Thứ, một trong số ít người có tiếp xúc, trò chuyện với bà trong những năm gần đây.

Từ Seattle, Hoa Kỳ, ông Trương Phú Thứ cho BBC biết:

LS Trương Phú Thứ: Tôi được biết bà Nhu nằm viện đâu chừng ba tuần lễ trước khi qua đời. Khi bà thấy mệt quá thì bác sỹ họ đưa vào trong nhà thương nằm trong tình trạng rất yếu, gần như không nói được nữa.

Tới Chủ nhật vừa rồi thì tôi nhận được điện thoại của gia đình bà từ bên Rome, nói bà đã qua đời vào lúc 2 giờ sáng giờ địa phương. Tất cả ba con của bà đều có mặt lúc ấy.

Trước khi mất khoảng ba năm, bà Nhu ở nhà với con trai cả là Ngô Đình Trác, tại Rome (Ý). Cô con gái út là Ngô Đình Lệ Quyên cũng ở nhà đó, trong tầng hầm. Cả gia đình ở với nhau rất vui vẻ hòa thuận. Vậy cho nên bà qua đời là cả gia đình có mặt.

Con trai thứ của bà Nhu là Ngô Đình Quỳnh thì sống và làm việc bên Bỉ.

BBC: Vậy thông tin nói bà Trần Lệ Xuân sống một mình trong biệt thự xa hoa lộng lẫy mà bạn của bà tặng thì là tin thất thiệt?

LS Trương Phú Thứ: Tin đó cũng như tin mà một vị tự xưng là sử gia tung ra, rằng bà Nhu có tới 17 tỷ Mỹ kim từ những năm 1960-1961. Tôi chỉ hỏi liệu hồi đó mang cả Sài Gòn ra bán có thu được 17 tỷ Mỹ kim hay không!

Thứ hai nữa, sau vụ đảo chánh 1963 bà Nhu phải ở trong một căn phòng studio chật chội, không có phòng ngủ, với bốn đứa con, chứ làm gì có lâu đài xa hoa như họ nói.

Cũng như là thông tin bà bị mất trộm một số tiền lớn ở Rome, hay năm 1963 bà đi mua đồ trang sức trị giá 30.000 đôla ở New York mà quịt không trả... Toàn chuyện họ bày đặt ra, đâu có được.

BBC: Thưa, lần cuối cùng ông có tiếp xúc với bà Trần Lệ Xuân là khi nào?

Bà cố vấn Ngô Đình Nhu

Sinh năm 1924 tại Hà Nội

Tốt nghiệp tú tài trường Albert Sarraut

Kết hôn với ông Ngô Đình Nhu năm 1943

Sống lưu vong từ năm 1963 sau khi có đảo chính ở miền Nam Việt Nam

LS Trương Phú Thứ: Lần cuối tôi nói chuyện với bà là chừng cách đây hơn hai tháng. Lần ấy bà còn khỏe lắm, tiếng nói khỏe và rất to, trong cuộc nói chuyện bà còn cười rất vui vẻ. Vậy mà tôi cũng không ngờ bà suy sụp mau lẹ như vậy.

BBC: Và các cuộc nói chuyện của ông với bà Trần Lệ Xuân là để bàn thảo về cuốn sách của bà ấy phải không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Vâng, đúng là như vậy. Bà Nhu viết bằng tiếng Pháp vì tiếng Việt bà viết không được giỏi nhưng tiếng Pháp của bà thì anh bạn tôi là Nguyễn Kim Quý, tiến sỹ văn chương Pháp, phải công nhận là lối hành văn của người rất giỏi Pháp văn.

Bà học trường Tây, có tú tài phần hai và cũng sống ở Pháp nhiều năm. Hồi tôi đi thăm bà lần đầu bên Paris năm 2002, bà sống một mình trong một căn hộ bên đó.

Lại nói về điều kiện sinh sống thì căn hộ đó của bà trông cũng rất bình thường, không thể so được với nhiều căn hộ bên Mỹ, mà lại tận trên tầng lầu thứ 11. Người già mà có tiền ai người ta chịu sống như vậy chứ?

Cuốn sách của bà Nhu thoạt ra dự tính sẽ phát hành vào tháng 9 năm nay, thế nhưng với cái chết đột ngột của bà thì chúng tôi phải tạm hoãn phát hành để truy cứu cho thật cẩn thận, không thể vội vàng được.

Vậy cho nên cuốn sách chắc sẽ ra trễ hơn độ dăm ba tháng.

BBC: Lần đầu tiên ông yết kiến bà Trần Lệ Xuân thì ấn tượng của ông như thế nào ạ. Ông có ngỡ ngàng vì người thực khác xa với tưởng tượng không?

LS Trương Phú Thứ: Cái hình ảnh mà hồi xưa chúng ta hay xem trên báo chí là hình ảnh một phụ nữ 28-29 tuổi, trẻ và đẹp. Nhưng hình ảnh của bà Nhu khi tôi gặp bà lần đầu là hình ảnh một bà cụ, tất nhiên là có khác nhau.

Tôi thì không ngỡ ngàng, vì biết ai cũng phải như thế, con người ta ai mà chẳng phải già đi. Tất nhiên vẻ đẹp bên ngoài thì không thể giống như hồi xưa.

Bàn tay người Mỹ

Bà Trần Lệ Xuân trước tượng Hai Bà Trưng - hình trên tạp chí LIFE

Bà Trần Lệ Xuân khi còn ở Sài Gòn

BBC: Thế nhưng còn sự quyền uy của người phụ nữ từng được cho là một thời khuynh đảo chính trường, ông có cảm thấy điều này không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Thực ra, bà Ngô Đình Nhu có quyền lực gì? Giống như một cô ca sỹ, hát một bài có người khen kẻ chê, thì bà Nhu cũng vậy.

Bà là vợ của một ông cố vấn, thậm chí còn không có sự bổ nhiệm chính thức của chính phủ. Vì ông cố vấn là em của ông tổng thống nên ông giúp ông tổng thống mà thôi chứ đâu có giấy tờ gì.

Nói vì bà Nhu khuynh đảo mà chế độ sụp đổ là điều sai lầm.

Quyết định lật đổ chính quyền Đệ nhất Cộng hòa và thủ tiêu anh em ông Tổng thống Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu, không phải là quyết định của người Việt Nam, mà là của người Hoa Kỳ. Đó là quyết định của một nhóm siêu quyền lực đứng sau tòa Bạch ốc của Hoa Kỳ, vì lợi ích của nước Mỹ mà họ làm vậy.

Ông Ngô Đình Diệm hay ai khác lúc đó làm tổng thống thì chắc đều chung số phận ấy cả.

Mà chúng ta thấy, ông Tổng thống J.F. Kennedy, chỉ có trì hoãn hoặc từ chối thi hành đòi hỏi của nhóm quyền lực đó mà cũng bị ám sát chết dưới con mắt chứng kiến của hàng nghìn người. Tổng thống Mỹ còn như vậy, huống hồ là tổng thống của nước Việt Nam?

BBC: Vâng nhưng thưa ông, chúng ta cũng không thể quên rằng bà Nhu được coi như Đệ nhất Phu nhân một thời vì ông Ngô Đình Diệm không lập gia đình, bà còn là dân biểu, Chủ tịch Hội phụ nữ. Và nhiều người cũng chưa quên những câu phát ngôn gây tranh cãi của bà, như trong chiến dịch đối với Phật giáo, vụ Hòa thượng Thích Quảng Đức...

LS Trương Phú Thứ: Tôi thì thấy rằng đa số vụ, người ta muốn nhắm vào ông tổng thống, nhưng không biết làm cách nào. Ông Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân, tất nhiên ông cũng có sai lầm.

Nhưng họ không bới móc tấn công được gì ông ấy, nên họ quay ra tấn công bà Ngô Đình Nhu.

Tuy nhiên, trong các cuộc nói chuyện của tôi với bà Nhu, chúng tôi không bao giờ nói chuyện chính trị cả, ngay cả những chuyện xảy ra với bản thân bà lúc đó.

Chúng tôi nói những chuyện khác, những điều rồi sẽ nằm trong cuốn sách sẽ phát hành trong tương lai.

(Còn tiếp)

Dòng họ Ngô Đình: (hình năm 1963, từ trái sang) Cố vấn Ngô Đình Nhu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, em gái tổng thống Diệm, bà mẹ (ngồi), bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Đình Cẩn. Hàng con cháu: Trác, Quỳnh, Lệ Quyên, Lệ Thủy

source

BBC Vietnamese

Monday, 25 April 2011

Bà Ngô Đình Nhu từ trần tại Roma, hưởng thọ 87 tuổi


VIETNAM -
Bài đăng : Thứ hai 25 Tháng Tư 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ hai 25 Tháng Tư 2011
Bà Ngô Đình Nhu từ trần tại Roma, hưởng thọ 87 tuổi
Bà Ngô Đình Nhu trên trang bìa tạp chí Time (DR)
Bà Ngô Đình Nhu trên trang bìa tạp chí Time (DR)
Tú Anh

Bà Trần Lệ Xuân, phu nhân của ông Ngô Đình Nhu, cố vấn Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã từ trần vào ngày lễ Phục Sinh chủ nhật 24/04 tại Roma, thọ 87 tuổi. Nhà báo Mỹ Robert Trumbull trên tờ The New York Times từng mệnh danh bà Nhu, em dâu của tổng thống Ngô Đình Diệm, là "First Lady of Vietnam".

Qua thông tin của trưởng nam Ngô Đình Trác và luật sư Trương Phú Thứ, người liên lạc hàng ngày với bà Nhu để hoàn tất những trang cuối cùng tập "Hồi Ký bà Ngô Đình Nhu" thì bà đã trút hơi thở sau cùng tại một bệnh viện ở Roma sau khi đã nhận lãnh các phép bí tích cuối cùng.

Bà mất vào lúc 2 giờ sáng ngày lễ Phục Sinh. Sinh năm 1924, bà Ngô Đìinh Nhu, nhũ danh là Trần Lệ Xuân học trung học tại Hà Nội, trường Albert Sarrault và đậu Tú tài Pháp. Bà thuộc dòng dõi trí thức và quý tộc , thân phụ là Luật sư Trần Văn Chương còn thân mẫu là cháu ngoại của vua Đồng Khánh.

Năm 1943 , bà kết hôn với ông Ngô Đình Nhu, bào đệ của ông Ngô Đình Diệm. Khi ông Diệm làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa thì ông Nhu là cố vấn chính trị. Trong thời gian 9 năm của Đệ Nhất Cộng Hòa, bà Trần Lệ Xuân là dân biểu Quốc hội và đứng đầu tổ chức quần chúng Phong trào Phụ nữ Liên đới.

Bà Nhu là một phụ nữ tân tiến với chiếc áo dài "cổ thuyền" mà lúc bấy giờ ở miền Nam gọi là « áo dài bà Nhu ». Ngược lại bà cũng là tác giả đạo luật gia đình nghiêm khắc. Ông bà Ngô Đình Nhu có 4 con , hai trai hai gái. Một số hoạt động và những lời tuyên bố "quá khích" của bà bị xem là đã làm cho công luận ở miền Nam bất mãn.

Lúc hai anh em Tổng thống Diệm bị đảo chánh sát hại ngày 1/11/1963, bà Nhu đang đi công tác ngoại giao cùng với con gái là Ngô Đình Lệ Thủy. Bà định cư tại Paris và sống rất đạm bạc. Ngô Đình Lệ Thủy tử nạn xe hơi năm 1968 ở ngoại ô Paris lúc còn là sinh viên đại học Sorbonne.

source

RFI Vietnamese

Saturday, 16 April 2011

Phố Tô Tịch


Phố Tô Tịch
Cập nhật lúc 6:51:37 PM - 08/04/2011
Bài và ảnh: Trần Công Nhung/Viễn Đông

311h1.jpg
Nhà cổ ở Tô Tịch

Lịch sử phát triển đất nước Việt Nam ai cũng biết khởi đi từ núi đồi vùng Tây Bắc xuống châu thổ sông Hồng, rồi dần vào sông Mã, sông Cả, sông Gianh, sông Hương và cuối cùng là sông Cửu Long. Thế nên, khi nói về cổ xưa thì miền Bắc đậm nét hơn cả.
Trong lần đến chơi nhà một người quen ở phố Lê Văn Hưu (Hà Nội), chủ nhà hỏi tôi: “Bác làm công tác nhiếp ảnh, phải đi khắp nơi thế thì vất vả nhỉ” – “Vâng nhưng bù lại mình được dịp nhìn tận mắt vóc dáng của quê hương. Qua nhiều miền tôi thấy có nơi sỏi đá khô cằn, người dân kiếm ngày hai bữa cơm chảy máu mắt, thế mà người ta ca ngợi đẹp như chốn thần tiên”.
Những câu hỏi như thế tôi thường gặp và cũng chỉ trao đổi cho qua chuyện, không ngờ ông này măn mo tìm hiểu đủ thứ, cuối cùng ông bảo:
- Em có một số hình ảnh Hà Nội cổ, bác cần em đưa cho.
Tôi nghe mà tỉnh cả người:
- Thế anh có bằng cách nào?
- Hôm đi in mấy tấm ảnh, gặp người quen, hắn cho xem một loạt hình thành phố Hà Nội thời Tây, thấy hay em xin. Nếu bác thích em cho bác mượn cái USB về chép lại.
- Vậy thì hay quá, cảm ơn anh.


311h2.jpg

Phố Hàng Đào thời Pháp

Có những chuyện tình cờ mà nên việc, từ lâu tôi có ý tìm kiếm hình ảnh cổ xưa của mọi miền đất nước để xem qua thời gian, sự vật thay đổi thế nào. Trong loạt ảnh Hà Nội cổ, có ảnh căn nhà số 12 Tô Tịch, một phố nhỏ hẹp của khu phố cổ Hà Nội. Chính con phố này trước đây mấy năm có người quen đưa tôi đến làm con dấu triện để “ấn ký” cho ra vẻ nhà văn. Nhìn vào hình cũ, thấy treo bảng hiệu:
“Ha Khe
12 phố Tố Tịch 12
Cửa hàng thợ tiện” (1)
Căn phố sơ sài, người thợ ngồi làm việc ngay cửa ra vào. Bên cạnh một cái tủ nửa kính nửa lưới bày những đồ tiện nho nhỏ: Chân đèn, bát nhang, độc bình, một hình ảnh hoang sơ hiền lành không có vẻ gì là phố thị. Hôm sau tôi ra Tô Tịch với ý nghĩ đi tìm vết dấu xưa.
Hỏi thăm nhiều người ở Hà Nội không ai rõ tại sao thời xưa gọi là phố Tố Tịch (Chiếu Trắng), vì vùng này không có dấu hiệu gì là nơi làm chiếu, bán chiếu. Có lẽ âm hưởng Tố Tịch không êm tai nên người ta đọc trại thành Tô Tịch, thuận tai hơn như Tô Châu, Tô Giang…
Phố Tô Tịch chỉ một đoạn chưa tới trăm mét, số nhà 12 vẫn còn nguyên, bề ngang căn phố vẫn thế, nay xây thêm lên cao và mặt tiền thay đổi theo lối trang trí ngày nay, “văn minh” hơn, ra vẻ thành thị hơn. Tuy một phố nhỏ nhưng có nhiều mặt hàng hấp dẫn du khách như hàng bán đồ tiện, sản phẩm làng nghề Nhị Khê (Thường Tín) cung cấp (2), xen kẽ vài ba hàng khắc con dấu, hàng sơn mài, hàng lưu niệm làm bằng gỗ, tre, hoặc tượng đồng giả cổ, hàng dày dép, có cả người bán dạo rau quả, thịt cá, nói chung là thượng vàng hạ cám cô đọng trong một đoạn phố hẹp.


311h3.jpg

Phố Tô Tịch ngày nay

Đứng giữa phố Tô Tịch tôi hình dung mấy trăm năm trước, con đường này không màu sắc lòe loẹt như hôm nay, vài ba chiếc xe kéo, đôi người đàn bà mặc áo tứ thân, đội nón vành qua lại thong dong, cảnh êm đềm bình thản hơn cả miền quê hôm nay. Thời ấy, phố lớn như Rue de La Soie (nay là Hàng Đào), cũng bình dị vắng lặng buồn hiu, ngay cả lúc có đám rước đi qua mà phố vẫn vắng tanh. Ngày nay Tô Tịch nhốn nháo người qua lại, du khách các nơi đổ về, không khí cổ xưa đã biến mất. Thấy một ông già đang đi tới, tôi hỏi thăm:
- Thưa cụ, xin lỗi tôi muốn hỏi thăm, có lẽ cụ sống ở phố Tô Tịch từ lâu?
- Vâng tôi ở đây từ bé, chỉ trong thời kỳ chiến tranh có sơ tán một thời gian.
- Dạ, phố Tô Tịch ngày xưa gọi là Tố Tịch, tại sao xin cụ giải thích dùm.
- Đúng thế, tôi không rõ tại sao ngày xưa là Tố Tịch. Tố là trắng, mộc, thô. Lụa mộc là lụa trắng chưa nhuộm, tịch là chiếu, chả lẽ ngày trước đây là làng nghề dệt chiếu, nhưng tôi nghĩ Tô Tịch dễ nghe hơn.
- Vâng, mà phố cổø này trông chẳng khác gì phố mới, cụ nhỉ.
- Bây giờ người ta xây lên cả, đằng kia có căn phố hai tầng làm từ năm 1912, nhà của Đào Văn Sử hội trưởng Hội Trí Tri, đấy là ngôi nhà lớn đầu tiên ở phố này. Người ta bảo trước kia, lối đi từ ngã ba Hàng Gai vào rất hẹp, phố chỉ là con đường đất, trời mưa thì lầy lội. Góc trái ngã ba có một ngôi đình, đình Đông Hà cổng nhìn ra Hàng Gai số 46, cạnh đình là một gốc bàng cổ thụ. Khi mở rộng phố, đình đã bị phá và cây bàng cũng không còn. Bài vị Thành Hoàng được thờ trong cái miếu nhỏ trên gác một hàng giải khát. Bây giờ chẳng còn gì là cổ nữa.
- Vâng, như căn nhà số 12 đây, giờ cũng khác xa, chỉ có số nhà là không thay đổi.

311h4.jpg

Hàng lưu niệm

311h5.jpg

Hàng rong

Ngoài những sản phẩm tủn mủn dành cho khách phương xa, Tô Tịch nổi tiếng là phố chè trái cây. Những hàng chè san sát nhau, không lớn, với diện tích bề 2 mét ngang sâu 3 mét, vài ba bàn bên trong, một hai bàn ngoài lề đường, tiệm chè nào cũng đông khách, nhất là buổi chiều. Chè trái cây là chè pha trộn nhiều loại quả. Quả được xắt thành những miếng nhỏ cho vào cốc. Một ly chè đủ thứ có gần chục loại quả: Dưa hấu, xoài, mãng cầu, bơ, dưa vàng, mít, nhãn được xếp theo trình tự màu sắc xanh, đỏ, vàng rất hấp dẫn và đẹp mắt. Nhìn là muốn ăn. Các ly chè bày sẵn trong tủ kính, khi có khách, người bán mang ra cho thêm ít sữa đặc và nước cốt dừa, một ít đá xay mịn lên trên. Sữa và nước dừa sẽ làm tăng thêm hương vị ly chè: Ngọt mát và thơm ngậy. Đấy là mô tả, thực tế tôi đã vào và chỉ dám uống một ly trái cây xay, không đá không đường, không sữa… không được ngon nhưng không phải lo đi cấp cứu…
Khách ăn chè đa số là tuổi trẻ, lúc nào nam nữ cũng đi cặp. Tuổi trẻ háo ngọt là đương nhiên, nhưng có lẽ túi tiền chỉ cho phép họ “hào hoa sỉ diện” ở mức độ một ly chè. Ngoại trừ các “cô chiêu cậu ấm” con quan “nội phủ”, lớp trẻ nhà nghèo tiền bạc đủ thiếu vào đâu! Nếu nhìn sâu một chút, thấy tôi nghiệp cho thế hệ trẻ ngày nay, tương lai của họ thật mờ mịt, có tiền để bò từ mẫu giáo lên đại học là chuyện không tưởng. Tốt nghiệp đại học không dễ kiếm được chân thư ký xã. Chỉ còn con đường trước mặt là bán sức lao động cho nước ngoài, bán trinh tiết cho ngoại nhân… để đổi lấy thảm cảnh “người rừng người rơm”, có khi bỏ xác nơi xứ người. Vấn đề làm động tâm cả thế giới, ngày nay nhiều tổ chức quốc tế đang tìm cách cứu vãn (3), trong lúc người mình thì không hay biết và sống theo chủ thuyết “Mackeno” (4).
Tiến hóa là định luật thay đổi của mọi loài, ai cũng mong mỗi ngày một thăng tiến, mới mẻ, văn minh hơn. Khi thay cái mới tất cái cũ không còn, tuy nhiên có những giá trị truyền thống thì không nên hủy hoại mà cần bảo tồn, kể cả những giá trị phi vật thể. Nhiều dòng tranh dân gian như tranh hàng Trống, tranh Đông Hồ, tranh làng Sình, nay lại phục hồi, nhã nhạc cung đình Huế còn được UNESCO thừa nhận là di sản quốc tế. Vấn đề là làm sao thấy được giá trị kho báu trong tay mình để gìn giữ tô bồi, chứ cứ nhờ người ngoài mách nước hay cho tiền mới gìn giữ thì một ngày kia gia sản chả còn gì. Mỗi lần mất đi một ngọn thác, một dòng sông, một đỉnh núi, mới nhìn ra giá trị để rồi hít hà thương tiếc. Nhưng không học thì làm sao biết được giá trị của cha ông!

Tháng 10-2010

(1) Nguyễn Vĩnh Phúc trong sách: Phố và Đường Hà Nội viết:
"Phố Tố Tịch dài 96m,đi từ phố Hàng Quạt đến phố Hàng Gai. Đây nguyên là đát thôn Tố Tịch, tổng Tiền Túc (sau đổi là Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ, Tố Tịch có nghĩa là chiếu trắng. Có thể là xưa kia thôn này có nghề dệt chiếu hay bán chiếu chăng?"-. Lãng Nhân trong tác phẩm “Nhớ nơi kỳ ngộ” trang 69 viết: “Bar Dân Mới” đặt trú sở ở góc phố Hàng Gai và phố Tố Tịch, trong một ngôi nhà được trang trí đúng như quán rượu ở Pháp.
(2) Ao Huê Trại Ổi trang 100 QHQOK tập 10.
(3) Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu, viết tắt là CAMSA, trong tiếng Anh là Coalition to Abolish Modern-day Slavery in Asia, hiện gồm năm tổ chức thành viên: BPSOS, Uỷ Ban Hoa Kỳ Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam, Liên Hội Người Việt Canada, Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc Tế (Đức), và Tenaganita (Mã Lai). Sau một năm hoạt động, Liên Minh CAMSA đã can thiệp cho trên 30 vụ lớn nhỏ, ảnh hưởng đến ba ngàn công nhân.
(4) Tiếng lóng: Mặc kệ nó.
source
Vien Dong Daily

Thursday, 10 March 2011

Trung Quốc tiến hành diễn tập chống cướp biển ở khu vực quần đảo Trường Sa


Người phát ngôn Bộ Ngoại giao:
Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam
- Người phát ngôn Bộ Ngoại giao hôm nay (10/3) khẳng định việc chính quyền tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) chủ trương khai thác kinh tế và du lịch ở Hoàng Sa, Trường Sa và Đài Loan huấn luyện bắn đạn pháo ở Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

Chấm dứt ngay

Sau khi Trung Quốc tiến hành diễn tập chống cướp biển ở khu vực quần đảo Trường Sa ngày 24/2, đến lượt Đài Loan mới đây lại tiến hành huấn luyện bắn đạn pháo ở khu vực xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa.

Yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ các nội dung vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Cương yếu quy hoạch phát triển tỉnh Hải Nam. Ảnh: HLong
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh: "Việt Nam coi đây là một hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo của Việt Nam, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình trong khu vực, đe dọa trực tiếp đến an ninh hàng hải, nhất là tàu thuyền qua lại và đánh bắt cá".

Việt Nam yêu cầu phía Đài Loan chấm dứt ngay và không để tái diễn các hoạt động tương tự.

Trước đó, việc Trung Quốc tập trận ở quần đảo Trường Sa cũng vấp phải sự phản đối kịch liệt của Việt Nam. Đại diện Bộ Ngoại giao đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam để phản đối hoạt động này.

Đi ngược nhận thức chung

Trong một động thái khác, ngày 3/3/2011, chính quyền tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) đã công bố "Cương yếu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Nam 5 năm lần thứ 12", trong đó có nhiều nội dung liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Cụ thể, chính quyền tỉnh này muốn đẩy mạnh xây dựng quy hoạch khai thác quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà trong Cương yếu gọi là “Tây Sa” và “Nam Sa”) và các vùng biển xung quanh, tăng cường bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, khai thác du lịch Hoàng Sa, xây dựng cơ sở hậu cần nghề cá ở Hoàng Sa.

Người phát ngôn nói việc làm này của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc duy trì hòa bình, ổn định, không làm phức tạp thêm tình hình tại Biển Đông, trái với Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ các nội dung vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Cương yếu nêu trên.

Thủy Chung

source

http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/12039/trung-quoc-vi-pham-nghiem-trong-chu-quyen-viet-nam.html

Saturday, 19 February 2011

Vì sao Đặng Tiểu Bình đánh VN năm 1979?


Vì sao Đặng Tiểu Bình đánh VN năm 1979?

Năm 1979, quân Trung Quốc đánh vào đến Lạng Sơn

Nhắc lại Chiến tranh Trung - Việt 32 năm về trước, một số nguồn sử liệu gần đây nhấn mạnh hơn đến vai trò riêng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình trong cuộc tấn công Trung Quốc gọi là 'phản kích tự vệ'.

Trong phần gửi cho BBC hôm 16/2 vừa qua, ông Dương Danh Dy, nhà ngoại giao Việt Nam từng làm việc tại Trung Quốc, có nói đến cách nhìn cuộc chiến từ hai phía.

Tuy nhiên, văn bản này còn cho biết thêm về vai trò quan trọng của ông Đặng Tiểu Bình trong quyết định đánh Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế có cả quan hệ với Washington và Moscow.

Nay BBC Tiếng Việt khai thác thêm các góc độ trong tài liệu này và so sánh với một số đánh giá đã nêu từ trước về cuộc chiến 1979, sự kiện vẫn chưa được thảo luận công khai ở cả Việt Nam và Trung Quốc.

'Hoa Kỳ không tán thành'

Đặng Tiểu Bình được trích lời nói rằng ông đã tuyên bố dạy cho Việt Nam 'một bài học' trước đó, khi thăm Hoa Kỳ, mở đầu chiến lược kiên kết với chính quyền Carter, nhằm chống lại Moscow và các đồng minh, trong đó có Hà Nội.

Ông Đặng nói với các tướng lĩnh Quân Giải phóng rằng Hoa Kỳ không tán thành việc Bắc Kinh trừng phạt Hà Nội nhưng cũng giúp một ít tin tình báo.

Cuộc đưa quân sang Campuchia của Việt Nam khi đó cũng là chủ đề đáng được nhắc lại vì phía TQ cho rằng cuộc chiến 1979 chủ yếu để 'dạy cho VN một bài học' vì 'xâm lăng Campuchia', nước khi đó là đồng minh, và hiện nay cũng đang gần lại với Trung Quốc trong chiến lược Đông Nam Á của Bắc Kinh.

Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy đăng tại một số trang mạng cá nhân ở Việt Nam như nguyenxuandien.blog nhân kỷ niệm 32 năm Chiến tranh Biên giới,

Ông Đặng tiết lộ:

"Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới( Trung Xô) chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số,"

Có vẻ như chi tiết này khiến TQ tiến hành cuộc chiến họ gọi là 'Đối Việt tự vệ phản kích chiến' nhanh chóng và sau khi tàn phá sáu tỉnh biên giới của VN thì rút quân về:

"Ba phần tư binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài."

Những người lính Trung Quốc hành quân trong cuộc chiến

Trong bài nói chuyện đó, ông Đặng Tiểu Bình cũng gọi Việt Nam là 'Cuba Phương Đông', hàm ý nước này là 'tay sai Liên Xô', và gọi các lãnh đạo Hà Nội là 'điên cuồng'.

Với giới trí thức bên ngoài, kể cả ở Phương Tây, cuộc chiến ngắn ngày nhưng dữ dội là một cột mốc quan trọng để đánh giá Trung Quốc trong quá trình tìm con đường mới, thoát khỏi thời kỳ tự cô lập của Mao Trạch Đông, và xác định vị trí trên trường quốc tế.

Vai trò quyết định

Trong một nghiên cứu hồi 2010, tác giả Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cho rằng ông Đặng có vai trò cá nhân nổi bật trong quyết định đánh Việt Nam.

Theo ông, nhìn từ quan điểm của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có ba yếu tố khiến bối cảnh xảy ra cuộc chiến trở nên khả thi.

Đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp định 1978; vai trò thống trị của Việt Nam ở Đông Dương và quan hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Còn về nội bộ, theo TS Trương, chính việc thăng chức của ông Đặng Tiểu Bình, từ vị trí phó thủ tướng khi Mao chết năm 1976, lên chức vụ cao nhất, nắm Quân uỷ Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết định cho việc đánh VN.

Trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy, ông Đặng tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác thường.

Trong phát biểu ngày 16/3/1979, ông được trích lời nói:

"Đồng thời khi kinh doanh chuyện chống đối Trung Quốc, Việt Nam đã đánh nhau nhiều năm, ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng, có công sự đã xây bẩy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế."

Một số nhà quan sát đã từng cho rằng ông Đặng phụ trách chuyện viện trợ của TQ cho Hà Nội thời chiến tranh Mỹ - Việt nên cảm thấy bị 'phản bội' bởi thái độ quay sang Liên Xô của nước Việt Nam cộng sản sau chiến tranh.

Vì thế, quyết định trừng phạt của ông được nói rõ:

"Nó cũng nghĩ là cậy hiệp ước này kéo Liên Xô xuống nuớc, cũng cậy có hiệp ước này cho rằng chúng ta không dám áp dụng trừng phạt qui mô tưong đối lớn. Ngay trước khi chúng ta ra quân mấy ngày nó còn dự đoán rằng chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn. Chúng ta hạ quyết tâm này đúng là đã tỉnh táo đánh giá phản ứng của phía bắc lớn đến đâu."

Các nguồn tin của phía Việt Nam, chẳng hạn như lời kể của cựu đại tá Bùi Tín, cho rằng mâu thuẫn giữa ông Lê Duẩn và Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình lên cao trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979.

Một số giới tại Việt Nam tin rằng ban lãnh đạo Bắc Kinh không thực sự muốn hai miền Nam Bắc VN thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hà Nội.

Ngoài ra, trong dư luận Việt Nam có niềm tin rằng Trung Quốc chỉ lợi dụng tình thế để kiếm lợi về địa chính trị và cả lãnh thổ, với bằng chứng là vụ đưa quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 từ tay Việt Nam Cộng Hòa.

Hệ quả lâu dài

Về vai trò của Mỹ, các bình luận cho tới nay phần nhiều đồng ý rằng chiến lược lôi kéo Trung Quốc để bao vây Liên Xô của cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski là yếu tố cơ bản để Washington liên kết với Bắc Kinh trong vấn đề Đông Dương.

Điều này cũng được chính giáo sư Brzezinski, người gần đây lại một lần nữa kêu gọi chính quyền Obama xây đắp trở lại quan hệ với Trung Quốc, xác nhận trong nhiều bài viết và sách của ông.

Đổi lại, Trung Quốc được mở lối vào lại với Phương Tây để hiện đại hóa nền kinh tế nhờ các thí điểm về đầu tư tư bản và công nghệ.

Về phía Hoa Kỳ, chiến lược Brzezinski tạo liên minh không tên với Trung Quốc khiến Washington phá vỡ khối xã hội chủ nghĩa châu Á mà không phải tham chiến.

Chiến tranh Biên giới 1979 và cuộc chiến Việt Nam - Campuchia đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế này, xung đột quân sự nổ ra giữa các nước cùng ý thức hệ.

Kế hoạch Bốn Hiện Đại hóa của Trung Quốc cuối thập niên 1970, đầu 1980 có cả phần về quân sự.

Và dù thiệt hại nặng trong cuộc chiến biên giới, Quân Giải phóng Trung Quốc đã rút kinh nghiệm trong việc tổ chức và tiến đến hiện đại hóa.

Việc tăng cường quân bị theo mô hình dùng không quân, hải quân và tên lửa nhiều hơn bộ binh, lực lượng chịu nhiều thiệt hại năm 1979, khiến Trung Quốc ngày nay trở thành một cường quốc khu vực với tham vọng toàn cầu.

Còn với Việt Nam, ngoài thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xung đột vẫn kéo dài, gây chảy máu nền kinh tế.

Cuộc chiến và việc đóng quân lại Campuchia cũng khiến Hà Nội bị cô lập nhiều năm về chính trị và kinh tế.

Tới khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc 10 năm sau, cùng thời gian cách mạng dân chủ rung chuyển Đông Âu, ban lãnh đạo Việt Nam đã quay trở lại làm thân với Bắc Kinh qua cuộc gặp Thành Đô, tạo ra một loạt hệ luỵ mới cho quan hệ song phương tới ngày nay.

Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển dần dần được giải quyết nhưng hòa bình qua đường biên giới, giao thương tăng nhanh với phần lợi nghiêng về Trung Quốc, vẫn chưa thực sự đem lại hòa giải giữa hai nước.

Việc các trang mạng cá nhân và blog ở Việt Nam nhắc lại nhiều về cuộc chiến 1979 cho thấy giới trí thức e ngại Trung Quốc vẫn muốn lên tiếng, trong khi truyền thông chính thức không đả động gì đến chủ đề lịch sử này.

source

BBC Vietnamese

Monday, 20 December 2010

Đền Quán Cháo


Đền Quán Cháo
Cập nhật lúc 9:21:36 PM - 17/12/2010
Bài và ảnh: Trần Công Nhung

296-h1.jpg

Lễ hội Đống Đa.


Dọc đường thiên lý Bắc Nam, có rất nhiều Đền thờ Thánh, thờ danh nhân lịch sử. Chúng ta thường nghe: Đền Thánh Trần, đền Bà Triệu, đền Hai bà Trưng... nhưng cũng có một số Đền nghe tên, khó mà hình dung được ý nghĩa như thế nào. Đền Quán Cháo, đền Dâu, đền Sòng v.v..
Tôi rời Nam Định (1) thật sớm, dọc đường ghé đền Quán Cháo, đền Dâu, làm sao đến Thanh Hóa kịp trong ngày để sáng hôm sau đi tìm đất Lam Kinh (cách Thanh Hóa 80km hướng Tây Bắc), kinh đô của vua Lê Thái Tổ ngày trước.
Đền Quán Cháo cách Ninh Bình 12 km về phía Nam. Đền Quán Cháo gắn liền với sự tích tiên nữ dâng cháo cho quân lính Tây Sơn trước giờ xung trận. Nói đến đền Quán Cháo, không thể bỏ qua chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung. Trận đại phá quân Thanh như một hào quang sáng rực trong lịch sử nước nhà. Xin dành ít phút để nhìn lại trang sử hào hùng có một không hai này. Chiến thắng của vua Quang Trung có phần đóng góp không nhỏ của một danh tài văn võ kiêm toàn, một kẻ sĩ được vua Quang Trung ngưỡng mộ tin tưởng, đó là Ngô Thì Nhậm.
Ngô Thì Nhậm sinh năm 1746 mất năm 1803, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê - Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý phục. Vụ án năm Canh Tý (1780) nổ ra (1), ông không can dự gì, nhưng cũng phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn. Khi biết Nguyễn Huệ nổi dậy khởi nghĩa, đánh đâu được đấy, và rất được lòng dân, Ngô Thì Nhậm đã hướng lòng mình muốn theo phò Nguyễn Huệ. Năm 1787, khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, ông đã thực hiện được điều đó. Nguyễn Huệ phong ông làm Tả Thị Lang bộ Lại. Trước khi trở về Phú Xuân, Nguyễn Huệ giao cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Dụng và Ngô Thì Nhậm trấn giữ Bắc Hà.

296-h2.jpg
Thị xã Tam Điệp.

Cuối năm Mậu Thân (1788), do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang nước ta, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Thế giặc rất mạnh. Trước tình hình đó, Ngô Văn Sở cho họp các quan văn võ, bàn cách đối phó. Đa số các quan bày mưu cố thủ ở Thăng Long. Riêng Ngô Thì Nhậm nghĩ khác. Ông cho rằng, lúc này quân địch rất mạnh, dân Bắc Hà còn nhiều người vẫn trung thành với vua Lê sẽ bị quân Thanh lừa dối. Nếu cố thủ ở Thăng Long, quân Tây Sơn dễ bị đánh ngay từ phía sau lưng. Theo ông, phải chọn đèo Tam Điệp là nơi ngăn cản quân Thanh, có nghĩa là khóa chặt cửa ải Tam Điệp. Ông lập ra kế hoạch và đem bàn với các tướng lãnh Bắc Hà: “Đèo Tam Điệp là nơi ngăn cách giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, rất hiểm yếu, ta nên tấn công gấp để giữ lấy, chớ để quân giặc chiếm trước. Được như vậy thì từ Trường Yên (phủ Trường Yên) về Bắc còn là của mình. Nếu núi Tam Điệp mà mất, thì lộ Sơn Nam thênh thang với những cánh đồng bằng phẳng rộng rãi, e khó tranh nhau với giặc, việc nước sẽ không thể làm thế nào được nữa”. Chiến lược đó được các tướng lãnh ủng hộ và thực hiện ngay.


296-h4.jpg

Đèo Tam Điệp.

Từ Thăng Long, Ngô Văn Sở theo đường bộ lui quân về giữ núi Tam Điệp (Ninh Bình). Thủy quân chở lương thực theo đường biển rút về đóng ở Biện Sơn (Thanh Hóa). Phòng tuyến thủy bộ Tam Điệp - Biện Sơn, đã hình thành vững chắc, nhằm nhử địch vào sâu về phía Nam, địch sẽ chủ quan kiêu ngạo, còn quân ta chờ vua Quang Trung kịp kéo quân ra Bắc.
Ngô Thì Nhậm chọn Tam Điệp làm nơi rút quân,vì ông am hiểu tường tận địa thế nơi này. Ba dãy núi đá vôi chạy suốt từ tỉnh Hòa Bình đổ về, ăn ra tận biển Đông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đến đây hạ thấp xuống làm thành 3 đèo liên tiếp nhau gọi là Tam Điệp. Từ phía Bắc vào, đèo thứ nhất cao 68m, đèo thứ 2 ở giữa cao 110m, đèo thứ 3 cao 80m (so với mặt biển). Phía Bắc đèo Tam Điệp, lại có một cửa ải hiểm yếu án ngữ. Núi đá đứng sừng sững hai bên, giữa là một lối đi - một thế núi hùng vĩ và cũng tuyệt đẹp (2). Vì thế đèo Tam Điệp là một phòng tuyến lợi hại, một vị trí chiến lược trong quân sự, như bức tường thành thiên nhiên án ngữ con đường ra Bắc vào Nam của đất nước, địch khó có thể tiến đánh quân Tây Sơn.
Chính vì vậy, khi tới đèo Tam Điệp, vua Quang Trung đã thán phục kế hoạch rút quân chiến lược của Ngô Thì Nhậm, “Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, lo chỉnh đốn đội ngũ rút về giữ chỗ hiểm yếu; trong thì khiến cho lòng quân phấn khích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng, đó là một kế hay”. (Hoàng Lê nhất thống chí).
Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 -1-1789), vua Quang Trung hội đại binh ở đèo Tam Điệp và dõng dạc tuyên bố: “Nay ta tới đây tự đốc việc quân, đánh hay giữ đã có kế cả rồi. Chỉ trong 10 ngày thế nào cũng quét sạch quân Thanh... Sau khi thắng trận phải khéo dùng ngọc bút thay giáp binh. Việc đó ta giao cho Ngô Thì Nhậm” (3).
Mười ngày sau, ngày 30 tháng Chạp (25-1-1789), vua Quang Trung mở tiệc khao quân ở đèo Tam Điệp và tuyên bố trước ba quân: “Nay hãy làm lễ ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi đến ngày 7 tháng Giêng vào thành Thăng Long, sẽ mở tiệc lớn. Các người hãy ghi nhớ lấy lời ta nói, xem có đúng không”.

296-h3.jpg

Gò Đống Đa.

Sự việc diễn ra đúng như vua Quang Trung nói: Chỉ trong 5 ngày, 29 vạn quân Thanh bị đập tan. Ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn chiến thắng lớn ở Đống Đa (Thăng Long), chiến thắng nhờ một phần mưu lược của Ngô Thì Nhậm như lịch sử đã ghi. Vì vậy năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ Thượng Thư.
Tưởng cũng nên nhắc lại: Bảy thế kỷ trước, đại quân của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng đã từng chọn nơi này để đóng quân, đánh giặc. Nay còn đền thờ Đức Thánh Trần ở Thổ Khối (xã Hà Dương, huyện Hà Trung, Thanh Hóa), nơi xưa kia ngài đánh tan chiến thuyền của Toa Đô. Đèo Tam Điệp là tên gọi chính thức trong sách sử và địa lý cổ Việt Nam, con đường thiên lý từ Thăng Long vào Nam, đi qua 3 đoạn đèo nằm trong vùng “Nhất bách lục sơn” (106 quả núi). Thời trước, con đường Thiên lý còn gọi là đường "dịch trạm”, đường "cái quan”, đường "triều chính”. Ngày nay Quốc lộ 1A qua Tam Điệp, có đoạn không trùng với đường thiên lý cổ, mà vượt qua núi Tam Điệp ở Dốc Xây, ranh giới giữa Ninh Bình và Thanh Hóa. Đoạn đường này do người Pháp mở từ đền Dâu (thị xã Tam Điệp, Ninh Bình) đến đền Sòng (thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa) vào đầu thế kỷ 20, để “nắn” thẳng đường Thiên lý, tránh phải đi qua đèo Tam Điệp cổ cheo leo. Từ năm 1999, đã có đường hầm qua núi ở Dốc Xây, đi lại hai chiều rất thuận lợi. Trong dân gian đèo Tam Điệp được gọi là Đèo Ba Dội. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ:

Đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân, quân tử ai là chẳng ...
Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo.


Vùng Ninh Bình cũng truyền nhau câu:

Ăn trầu nhớ miếng cau khô
Trèo lên Ba Dội nhớ cô bán hàng


(Còn tiếp)
Trần Công nhung
06 - 2008

(1). Chùa Bà Đanh trang 90 QHQOK tập 10
(2) Năm 1842, vua Thiệu Trị tuần du qua đèo Tam Điệp đã làm bài thơ “Quá Tam Điệp sơn”, 10 tháng sau bài thơ được khắc bia đá, dựng ngay cạnh con đường Thiên lý cổ băng qua đỉnh núi ở giữa, cao nhất. Hiện nay, tấm bia đá đã được tìm thấy trên đỉnh đèo. Năm 1984, tìm được nền nhà bia cũ và bia được dựng đúng vị trí nhà bia cổ. Đỉnh núi có tấm bia này là điểm phân chia địa phận giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa.
(3). Ngô Thì Nhậm tự là Hy Doãn, sinh năm 1746, là con của hoàng giáp Ngô Thì Sĩ, thuộc dòng họ Ngô ở làng Tả Thanh Oai (tục danh là làng Tó), huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ (nay là tỉnh Hà Tây). Dòng họ này liên tục gần hai thế kỷ có nhiều người đỗ cao, học rộng, làm quan liêm khiết, lừng tiếng Bắc Hà. Ngô Thì Nhậm cũng hết lòng phục vụ chúa Trịnh Sâm, đề nghị nhiều dự án cải cách lớn, nhằm thay đổi cách cai trị, chống quan lại tham nhũng, làm giảm nỗi khổ cho dân. Nhưng ông đã hoàn toàn thất vọng: Trịnh Sâm cũng như các chúa Trịnh trước đó xa xỉ, hoang dâm vô độ, chỉ mỗi ngày một dấn sâu đất nước vào vòng đói khổ.
Người tri kỷ bao năm trời mong đợi của ông là người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, với lá cờ Tây Sơn đỏ chói phương Nam, mà ông đã từng nghe tin tức từ mấy năm về trước nay đã đến. Bài phú nói lên ước mơ của ông: "Chờ khi người biết đến mình, chí lớn nọ đem ra vùng vẫy; giúp tám cực mà chuyển xoay; vỗ chín cực yên rường mối", đã trở thành hiện thực. Năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc, chỉ một trận quét sạch cơ đồ hai trăm năm của họ Trịnh. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, giết Võ Văn Nhậm chuyên quyền mưu phản, rồi cho mời ông đến, phong ngay cho ông chức Thị Lang Bộ Lại, sau đó lại giao cho ông cùng Ngô Văn Sở, Nguyễn Văn Dũng, Trần Thuận Ngôn cai quản toàn bộ mười một trấn Bắc Hà.
Nhân nói về Ngô Thì Nhậm, tôi nhớ ngày còn ở quê nhà (1992), thi sĩ Trần Chấn Uy (Đài truyền hình Nha Trang), có kể cho tôi nghe câu chuyện về bài thơ Lương Thiện, đăng trên tạp chí Sông Hương (thập niên 80). Bài thơ ca ngợi những người trung liệt bị chém đầu, chỉ vì “Trọng nhân nghĩa giữ đức lành” “để làm người lương thiện”. Bài thơ đã bị nhà văn Vũ Hạnh (tức cô Phương Thảo mục điểm sách tạp chí Bách Khoa trước 75), đả kích kịch liệt, vì có những câu sau đây:

Vị đại thần triều Lê - Nguyễn Trãi
Có phải vì thanh liêm mà mắc án Lệ Chi Viên
Kẻ sĩ Bắc Hà Yên Đổ Tam Nguyên
Thương dân, khóc nước mắt mờ
Chí sĩ họ Ngô
Nhận cái chết để giữ mình lương thiện..

Trần Chấn Uy nói: Nếu Vũ Hạnh là kẻ vô danh tiểu tốt thì anh không lên tiếng, nhưng Vũ Hạnh đã từng là “cai văn nghệ”, (tức cô Phương Thảo mục điểm sách tạp chí Bách Khoa trước 75), một người nổi danh là nhà phê bình, nên buộc anh phải lên tiếng, bằng cách kể chuyện một em mục đồng sáng lùa trâu ra khỏi chuồng, đếm đủ 10 con; chiều về đếm mãi vẫn thiếu một, em quên đếm con trâu mình đang cỡi. Vũ Hạnh quên lịch sử còn có chí sĩ họ Ngô (Thì Nhậm), chứ không phải chí sĩ Ngô (Đình Diệm) mà thôi. Vũ Hạnh bị cú “knock out” không đỡ nổi, im luôn.
source
Vien Dong Daily